Công ty CP TM & SX TBCN Anh Phát
Hotline: 0911.384.116
Email:hue@anhphattools.com
skype:Duy Huế Lê

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

slide show

Translate

ta rô, taro, taps

Hotline

Hướng dẫn lựa chọn sử dụng mũi taro ren


Trong cơ khí thì việc gặp những vấn đề tạo ren, xử lý các bước ren là không thể tránh khỏi. Vậy việc lựa chọn mũi taro cho các bước và sử dụng nó như thế nào? Chúng ta cùng xem nhé.


Taro là dùng mũi thép để tạo ra các bước ren khác nhau với đường kính khác nhau. Taro có hai hình thức căn bản là taro trong và ngoài.

2. Phân loại mũi taro
 
Taro tay Ruko Đức
Taro Tay Ruko Đức trong hộp gỗ


Tay Quay bàn ren Ruko Đức
Tay Quay bàn ren Ruko Đức


Taro máy Ruko Đức
Taro máy ruko Đức


- Phân loại theo đơn vị đo lường: thông dụng nhất hiện nay là đơn vị hệ SI, PI và dầu khí. Hệ dầu khí nguồn tài liệu cũng như thông tin rất hạn chế. Muốn có thông tin thì phải mua bản quyền và giá cả thì không hề rẻ.    

- Phân loại phương pháp taro: có thể tạo ren bằng phay ren, tiện ren, cán ren, taro ….  

- Phân loại theo vật liệu của mũi taro: mũi taro có thể được làm bằng thép thông thường nhưng chất liệu thép này cũng tùy thuộc vào từng nước sản xuất như mũi taro của Đức,Nhật, Đài Loan, Trung Quốc là khác nhau … Để mũi dùng được lâu và không mất thời gian khi mũi taro bị gãy giữa chừng tốt nhất nên tốn ít tiền để đầu tư mũi taro chất lượng. Và mũi taro làm bằng Inox mũi taro bằng Inox chắc chắn nhưng dòn dễ bị gãy giữa chừng.      

 
Taro ren Ruko Đức
Phương pháp Taro ren
- Phân loại theo kiểu taro trongtaro ngoài

- Phân loại mũi taro sử dụng bằng tay hay bằng máy: nếu mũi taro sử dụng bằng tay thì 1 bộ thường 2 cái (1 cái thô và 1 cái tinh), một số hãng thì mũi taro có 3 mũi (1 mũi thô, 1 mũi dẫn hướng, mũi còn lại là tinh), chú ý là phải mua thêm 1 cái tay taro cho loại mũi này . Đối với taro bằng máy thì có 1 cái những dài gấp 3, 4 lần mũi taro bằng tay. 
Ví Dụ Taro của Ruko Đức : Taro tay Ruko Đức có bộ 3 mũi ( 1 mũi thô, 1 mũi dẫn hướng, 1 mũi tinh ). Taro tay bộ có 2 mũi ( 1 mũi thô, 1 mũi tinh ) hoặc chỉ có 1 mũi.
Taro máy Ruko Đức chỉ có 1 mũi HSS, HSS Co 5, HSSE Co 5 TiCN, HSS Co 5 ...

3. Lựa chọn mũi khoan taro
Taro ren Ruko Đức


Taro ren Ruko Đức
BNG TRA CU BƯỚC RĂNG VÀ ĐƯỜNG KÍNH L KHOAN TƯƠNG NG KHI TARO



4. Hướng dẫn sử dụng mũi taro:

Muốn khoan lỗ để taro chính xác thì phải khoan 2 lần, nếu khoan 1 lần dùng mũi đó luôn thì lỗ thường bị rộng, dẫn đến ren bị lỏng và dễ tuôn ren. Sau khi khoan nên dùng 1 mũi lớn hơn vát mép lỗ khoan, dẫn hướng cho mũi taro dễ dàng. Dễ nhất là dùng máy khoan Từ Ruko Đức hay máy taro có đầu chỉnh moment xoắn được, sẽ hạn chế gãy mũi taro, nhất là mũi nhỏ. Còn không thì dùng tay quay. Nhất thiết phải có chất bôi trơn như dầu nhớt, thông thường và tốt nhất nên dùng là dầu dừa hoặc mỡ heo.

Khi taro (ta rô, taps) đầu tiên đặt mũi taro (ta rô, taps)  song song với lỗ khoan (vuông góc mặt phẳng), nếu không song song sẽ làm đường ren bị xéo, càng sâu càng nặng và nguy cơ gãy mũi cao. Sao đó quay taro, cẩn thận thì quay tới 1 vòng quay lui nửa vòng, kết hợp lắc mũi taro cho bavia rơi ra. Taro sâu khoảng 5 ren nên quay hết mũi ra để lấy bavia ra ngoài. Khi thấy nặng tay thì đừng cố, coi chừng gãy mũi trong đó thì khổ. Đó là dùng mũi taro thông thường, loại có 1 mũi thô 1 mũi tinh. Đầu tiên taro mũi thô, sau đó chuyển qua mũi tinh quay qua 1 vòng. Nếu ren nào cần lắp chặt thì không cần dùng mũi tinh luôn cũng được. Còn dùng loại mũi taro cho máy taro thì có khác (loại mũi xoắn hoặc mũi đầu có vát xéo, đắt khoảng 5-10 lần mũi thường), không cần quay ngược, tại kết cấu nó đã cho phép bavia thoát ra dễ dàng. Dùng cái này quay tới khi nào thấy nặng tay thì quay ra để thoát bavia, sau đó quay tới tiếp.

Lỗ khoan nên sâu hơn chiều sâu có ren khoảng 5mm, chẳng hạn muốn có lỗ ren M5x0.8 sâu 10mm thì khoan lỗ cạn nhất là 15mm, vì mũi taro có phần dẫn hướng không có ren hoặc ren cạn, đoạn ren đó không dùng được.  

5. Các sự cố khi taro:

a. Phòng tránh gãy mũi taro

- Nguyên lí cơ bản trong  taro là giữa chi tiết và dao phải có 1 tùy động. Mũi taro sẽ tự lựa lỗ khoan.

- Dung dịch tưới nguội có 3 tác dụng là: làm nguội, bôi trơn và thoát phoi, đó có thể là dung dịch Epoxi thông thường tưới với lưu lượng lớn dùng khi taro máy. Có thể dùng dầu để bôi trơn khi taro tay, lúc đó dầu chỉ có tác dụng làm nguội và bôi trơn (bôi tap-paste cũng hạn chế được việc gãy taro (ta rô, taps)  rất nhiều, cái này công hiệu hơn các loại dầu gia công khác).

- Tốc độ trục chính khi taro giảm dần khi đường kính ren tăng dần, tốc độ trục chính tăng dần khi hàm lượng Cacbon trong thép tăng. Taro ren M5, thép CT3 có thể chọn tốc độ trục chính là 350 v/phút.

- Nếu taro (ta rô, taps)  tay thì trước khi bị vướng bavia đảo chiều dao lại để thoát bavia, sau đó ăn lại tiếp (giống như khi động tác cắt bavia khi khoan vậy, nhưng M3 trở xuống vướng bavia một chút là gãy dao liền). Còn taro (ta rô, taps)  trên máy tự động thì không kiểm soát được lực nên thường phát sinh việc gãy taro (ta rô, taps)  khi dao còn vướng lại bavia lúc taro lỗ trước. Để tránh tình trạng vướng bavia này ta có loại taro (ta rô, taps)  ép (khi taro (ta rô, taps)  không phát sinh bavia) nhưng loại này chỉ hữu dụng đối với vật liệu chưa tôi mà thôi.

Có thêm 3 điểm bạn cần lưu ý như sau:

1) Ta rô dùng cho máy khác tarô tay.

2) Mũi taro (ta rô, taps)  hay dùng thép gió ( HSS ), tuy nhiên cùng là HSS nhưng chất lượng tuỳ theo hãng sản xuất ra nó mà khác nhau, nên dùng loại có chất lượng tương đối một chút (Ruko Đức, Japan, Taiwan…), không nên dùng hàng China. Tuy giá hơi đắt nhưng nhìn tổng thể là hiệu quả hơn.

3) SUS (inox) là dạng vật liệu rất “khó chịu” khi taro (ta rô, taps)  do độ bền cao hơn CT. Đặc biệt là độ dẻo rất cao, phoi bị dính rất dễ gãy, nhất là các mũi nhỏ như M4 trở xuống. Bạn có thể tăng đường kính lỗ khoan lên một chút (cái này không gọi là “ăn gian” vì thực tế, do độ dẻo cao, kim loại sẽ bị đùn lên bù lại) và yêu cầu người thợ phải thật cẩn thận khi thao tác.

b. Khắc phục khi bị gãy mũi taro (ta rô, taps)

- Dùng hard-drill (carbide) để phá:

*) Định tâm vị trí lỗ cần khoan bằng hard-drill có đường kính lớn trước (chẳng hạn mũi taro (ta rô, taps)  bị gãy là M3 thì dùng hard-drill phi 4 hay phi 5 phá chổ mũi tap bị gãy còn gồ ghề, sần sùi để tạo lỗ định vị trước)

*) Dùng hard-drill nhỏ hơn mũi tap bị gãy để phá nó (giả sử mũi tap gãy là M3 thì dùng hard-drill phi 2). Sau đó nạo hết tàn dư của mũi tap gãy còn sót lại trong lỗ tap ra (lúc này bên trong lỗ mũi tap đã bị phá ra nát nhừ nhưng vẫn còn tàn dư sót lại trên thành ren).

Cách này tương đối kinh tế nhất vì chỉ tốn 2 mũi khoan hard-drill.

- Dùng điện cực để bắn mũi tap bị gãy, sau đó cũng cạo hết tàn dư ra rồi taro (ta rô, taps)  lại. Nếu có sẵn máy bắn điện thì dùng cách này tối ưu nhất (với trường hợp sản phẩm nhỏ gọn có thể gá lên máy được). Ở một số đơn vị sản xuất nhỏ lẻ công nhân hay dùng cách lấy đèn hơi thổi mềm mũi taro (ta rô, taps) , nhưng do không kiểm soát được nhiệt của đèn hơi nên rất dễ phát sinh những biến dạng nhiệt xung quanh khu vực gãy mũi taro (ta rô, taps) .

- Dùng end-mill carbide phá banh xác cái lỗ có mũi taro bị gãy luôn, sau đó gắn taro đệm vào (tiếng Anh gọi là Herlisert thì phải), khi sử dụng end-mill để phá thì phải dùng end-mill có đường kính bằng đường kính chân ren của herlisert để sau đó làm ren lại.

Cách này tốn kém nhiều nhất vì phải cần có  end-mill , mũi  taro (ta rô, taps)  dành cho herlisert, herlisert và các dụng cụ gắn herlisert.

- Trường hợp gãy sâu bên trong thì có thể dùng dụng cụ nhỏ dùng để sơn phết quét Rikeizai (tên VN không rõ, đây là một chất thuốc chống dính) xung quanh thành lỗ và phần ren đã cắt và các vị trí quanh mặt lỗ. Đợi khoảng 5 phút thì thả một cây sắt chữ T có đường nhỏ hơn đường kính lỗ một chút vào lỗ, tiếp theo đổ Allon Alpha chuyên dụng, đợi khoảng 1 phút thì keo này khô cứng lại (gần như thép). Sau đó thì quay ngược cây sắt chữ T ra thì nó kéo mũi tap gãy ra luôn. Vấn đề kỹ thuật là kinh nghiệm quét Rikeizai, quét không kỹ thì Allon Alpha nó dính vào chân ren thì coi như hỏng lỗ ren đó.

Hiện nay, người ta thường dùng máy  taro (ta rô, taps)  để làm việc này. Kết cấu cũng tương tự máy khoan bàn. Nguyên lý cơ bản là dùng ly hợp ma sát để truyền chuyển động quay, liên động với tay gạt kéo trục gá mũi  taro (ta rô, taps)  đi xuống. Moment xoắn truyền qua mũi  taro (ta rô, taps)  gần như tỷ lệ thuận với lực đè, rất khó gãy mũi.

6. Kinh nghiệm khi Taro.

- Khi taro bằng mũi Taro Inox thì nên mài lại cho thật sắc để tránh trường hợp phôi bị cháy. Nếu phôi bị cháy thì rất khó taro sau này.

- Đối với mỗi vật liệu phôi để taro thì nên chọn mũi taro cho phù hợp. Ví dụ vật liệu Inox thì nên chọn mũi taro là Inox, còn vật liệu phôi là thép cacbon bình thường thì nên chọn mũi thép được rồi nhưng mua loại mũi taro nên chọn loại tốt.  

- Máy phải dễ đảo chiều trục chính để lấy taro (ta rô,taps) ra khỏi vật (trừ kiểu taro (ta rô, taps) xong thì thả taro (ta rô, taps) ra khỏi đầu cặp và lấy taro (ta rô, taps) ra khỏi vật ở mặt sau của lỗ ren hoặc taro (ta rô, taps) chuôi cong để taro (ta rô, taps) đai ốc.

- Hãm trục chính phải tốt, nếu có hãm tự động hay đảo chiều tự động nhờ đặt cữ càng tốt, nhất là đối với lỗ ren không thông (tịt).

- Khi cắt ren, taro (ta rô, taps) và vật vặn vào nhau, cứ một vòng quay của taro (ta rô,taps) chúng tiến vào nhau một bước ren. Như vậy kết cấu của máy phải cho phép có chuyển động này theo 1 trong 2 kiểu sau:

a. Có xích truyền động cơ khí bảo đảm trục chính quay 1 vòng thì vật hoặc đầu trục chính tiến một bước ren (như khi tiện ren).

b. Vật hoặc đầu trục chính được thả tự do theo phương dọc trục, trong quá trình cắt gọt chúng tự phối hợp chuyển động (đầu máy khoan có khả năng này).

Trên máy phay vạn năng:

- Việc đảo chiều trục chính không tiện. Nói chung phải gạt tay gạt đảo chiều khi đã ngắt hộp số ra khỏi động cơ trục chính.

- Không có cơ cấu hãm trục chính. Muốn dừng phải để trục chính chạy hết đà.

- Không có xích truyền động nối trục chính với bàn máy phay. Đầu trục chính nói chung theo kiểu không có chuyển động tự do như đầu máy khoan.

- Bởi vậy dùng máy phay vạn năng nhất là máy phay ngang để taro (ta rô, taps) là không thích hợp.

- Nếu buộc phải dùng máy phay để taro (ta rô, taps) thì nên chế tạo đầu cặp taro (ta rô, taps) hoặc đồ gá kẹp vật có khả năng tùy động hướng trục và hướng kính.

7. Bộ mũi khoan Taro phổ biến

Bộ mũi khoan taro tay loại 22 chiếc

Bộ mũi khoan Taro tay gồm 22 chiếc theo tiêu chuẩn DIN 352, mỗi loại gồm 3 chiếc cho M3 – M4 – M5 – M6 – M8 – M10 – M12 và 1 chiếc tay vặn theo tiêu chuẩn DIN 1815 kích cỡ 11/2.

Bộ mũi khoan taro ren loại 37 chiếc

Bộ mũi khoan Taro ren gồm 37 chiếc, mỗi bộ gồm:

* 3 chiếc theo tiêu chuẩn 352 cho M3 – M4 – M5 – M6 – M8 – M10 – M12

* 7 chiếc theo tiêu chuẩn DIN 22568

* 7 chiếc mũi khoan xoắn theo tiêu chuẩn 338 cho M3 – M4 – M5 – M6 – M8 – M10 – M12

* 5 chiếc tay Taro ren ngoài tiêu chuẩn 225 với các kích cỡ: 20.0 x 5.0 mm; 20.2 x 7.0 mm; 25.0 x 9.0 mm; 30.0 x 11.0 mm; 38.0 x 14.0 mm.

* 2 chiếc tay taro ren trong cỡ 1 & cỡ 2 theo tiêu chuẩn DIN 1814

* 1 tovit

* 1 dụng cụ đo bước ren

Bộ mũi khoan Taro gồm 54

Mỗi bộ mũi khoan taro gồm:

* 3 chiếc taro tay theo tiêu chuẩn 352 cho M3 – M4 -  M5 -  M6 – M8 – M10 – M12 – M14 – M16 – M18 – M20

* 11 chiếc taro ngoài cho tiêu chuẩn DIN EN 22568 cho M3 – M4 -  M5 -  M6 – M8 – M10 – M12 – M14 – M16 – M18 – M20

* 6 chiếc tay taro ren ngoài theo tiêu chuẩn 225 có kích thước: 20.0 x 5mm; 20.2 x 7.0 mm; 25.0 x 9.0 mm; 30.0 x 11.0 mm; 38.0 x 14.0 mm; 45.0 x 18.0 mm.

* 2 taro ren trong cỡ 1 & cỡ 2  theo tiêu chuẩn DIN 1814

* 1 tovit

* 1 dụng cụ đo bước ren

Bộ mũi khoan Taro 28 chiếc gồm 

Bộ mũi khoan taro ren gồm 28 chiếc đựng trong hộp gỗ, mỗi bộ gồm:

* 2 chiếc mũi taro tay loại G theo tiêu chuẩn DIN 5157

* 7 taro ngoài loại G theo tiêu chuẩn DIN 24331 với các kích cỡ 1/8 – 1/4 – 3/8 – 1/2 – 5/8 – 3/4 – 1’’

* 5 tay taro ngoài theo tiêu chuẩn DIN 225 với kích cỡ 30.0 x 11.0 mm; 38.0 x 10.0 mm; 45.0 x 14.0 mm; 55.0 x 16.0 mm; 65.0 x 18.0 mm.

* 2 taro ren tay cỡ 3 & cỡ 5 theo tiêu chuẩn DIN 1841

Bộ mũi khoan Taro 44 chi tiết gồm 

Mỗi bộ mũi khoan taro gồm:

* 3 chiếc theo tiêu chuẩn 352 loại M3 – M4 – M5 – M6 – M8 – M10 – M12

* 7 mũi khoan xoắn tiêu chuẩn 338 loại N Φ2.5 – 3.3 – 4.2 – 5.0 – 6.8 – 10.2 m

* 7 taro ngoài loại M theo tiêu chuẩn DIN 22568 cho kích cỡ: M3 – M4 – M5 – M6 – M8 – M10 – M12

* 5 tay taro ngoài theo tiêu chuẩn DIN 225 cho kích cỡ 20.0 x 5.0 mm; 20.0 x 7.0 mm; 25.0 x 9.0 mm; 30.0 x 11.0 mm; 38.0 x 14.0 mm.

* 2 tay taro trong cỡ 1 & cỡ 2 theo tiêu chuẩn DIN1814

* 1 tovit

*1 dụng cụ đo bước ren



 Để Đựợc tư vấn thêm Quý khách xin liên hệ
hotline : 0967325644/ 0908693795
Skype: thin xuan

1 nhận xét:

  1. Công ty chuyên cung cấp dịch vụ làm hộp đèn mica hút nổi giá thành tốt nhất Tp.HCM cũng như cung cấp dịch vụ gia công biển bảng hộp đèn mica hút ép nổi với những kỹ thuật gia công hút nổi vượt trội với công nghệ máy móc mới nhất, cùng đội ngũ nhân viên thi công nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực quảng cáo.
    Với những dịch vụ cung cấp sản phẩm như:
    – Hộp đèn mica hút nổi quảng cáo theo yêu cầu thiết kế + kích thước của khách hàng với nhiều mẫu mã như: Hình vuông, hình elip, hình cầu, hình chữ nhật, hình tròn.. với công nghệ hút nổi mica lõm, lồi…
    – Làm bảng hiệu hộp đèn mica ép nổi mọi kích thước
    – Làm chữ nổi mica hút ép nổi
    – Làm logog mica hút ép nổi
    – Gia công mọi thiết kế liên quan đến mica hút nổi theo yêu cầu như: trang trí nhà hàng, khách sạn, phòng Karaoke, quán Bar….
    Chúng tôi nhận làm bảng hiệu quảng cáo:
    bảng quảng cáo đẹp
    bảng hiệu hộp đèn
    bảng hiệu hộp đèn đẹp
    bảng hiệu alu
    bảng hiệu đèn led
    bảng hiệu đèn led giá rẻ
    biển quảng cáo led
    quảng cáo đèn led
    led quảng cáo
    mica led
    hộp đèn
    hộp đèn quảng cáo
    biển quảng cáo chữ nổi
    giá làm bảng hiệu hộp đèn
    giá làm bảng hiệu đèn led
    giá bảng hiệu đèn led
    giá làm bảng hiệu quảng cáo
    in bảng hiệu
    hộp đèn quảng cáo giá rẻ
    Quảng cáo Đại Phát
    Địa chỉ: 55 Linh Đông, P. Linh Đông, Q. Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh
    Điện Thoại: 0935 79 00 28
    Email: daiphatgroup2010@gmail.com
    Website: thietkethicongdaiphat.com

    Trả lờiXóa